Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một Mẹ thôi …

Đặc sản Phú Thọ

Những đặc sản đáng nhớ về quê hương – Đặc sản Phú Thọ

(Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Phú Thọ có 1 thành phố, 1 thị xã và 11 huyện, bao gồm:

+ Thành phố Việt Trì

+ Thị xã Phú Thọ

+ Huyện Cẩm Khê, huyện Đoan Hùng, huyện Hạ Hòa, huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh, huyện Tam Nông, huyện Tân Sơn, huyện Thanh Ba, huyện Thanh Sơn, huyện Thanh Thủy và huyện Yên Lập.

Những đặc sản đáng nhớ về quê hương Phú Thọ:

Đặc sản Phú Thọ 1

(Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Bánh tẻ mật: Không rõ bánh tẻ mật ở Đào Xá có từ bao giờ chỉ biết là đối với người dân ở đây loại bánh này đã trở nên rất quen và là thứ bánh không thể thiếu trong mâm cỗ thờ ở đình trong ngày hội làng. Để có bánh ngon theo kinh nghiệm của bà con ở đây là phải chọn thứ gạo tẻ nguyên chất, mật làm bánh là thứ mật mía đặc thơm và có màu đỏ tươi. Lá gói bánh phải là lá chuối khô còn lạt chằng là lạt giang tước mỏng. Cũng như bánh nẳng, bánh tẻ mật không gói nhân. Động tác của người gói bánh tẻ mật yêu cầu phải nhanh tay, nhẹ nhàng, khéo léo đảm bảo đến cái bánh cuối cùng bột vẫn còn nóng, có như vậy khi đồ bánh mới chín đều, mịn màng, óng mượt. Gói xong xếp ngay vào chõ bắc lên bếp đồ, khi nào hơi trong chõ bốc lên đều, ta thắp một nén hương theo dõi hương tàn là bánh chín. Để bánh nguội hẳn, bóc ra lấy lạt giang tước nhỏ cắt thành từng lát dày độ 2 phân, bày 2 – 3 lượt lên đĩa tráng men trắng, trông từng lát bánh vàng óng, trong suốt như mật ong, tỏa mùi thơm mát, ngọt ngào hấp dẫn. Khi ăn đưa lát bánh mới chạm vào đầu lưỡi đã có cảm giác vừa mát dịu vừa ngọt ngào thật thú vị. Vừa ăn, vừa nhâm nha thưởng thức ta mới cảm nhận được hương vị của thứ bánh như mang theo hương đồng gió nội vậy. (Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Búp khoai kho: Búp khoai ở đây nói tới không phải là búp khoai lang, mà là búp của các giống khoai có dọc (có nơi còn gọi là bẹ hoặc đài khoai) như khoai trứng, khoai riềng, khoai lủi, khoai đốm… thứ khoai mà thường ở làng quê nào cũng có, vừa dễ trồng, dễ chăm sóc lại có nhiều tác dụng và giá trị kinh tế đích thực. Củ khoai dùng luộc hoặc sào nấu làm canh ăn không biết chán. Dọc khoai dùng chăn nuôi lợn rất hay ăn chóng lớn. Còn búp khoai (trừ khoai đốm là loại khoai rất ngứa ít người dùng) đem kho tương cho ta thứ canh ăn rất ngon, mang đậm đà hương vị làng quê. Món búp khoai kho không có quanh năm chỉ có theo mùa và trong thời gian rất ngắn. Khoai thường trồng từ tháng 11 âm lịch năm trước đến tháng 5 năm sau thì thu hoạch. Thời gian từ khi khoai mọc đến trung tuần tháng 4 khoai phát triển và đẻ con nên không hái búp. Mãi đến đầu tháng 5 trước khi thu hoạch 1-2 tuần người ta mới hái búp khoai vừa làm thức ăn vừa cho khoai chùn lại để tập trung dinh dưỡng nuôi cho củ to mập. Nhấc nồi canh xuống mở vung cho nguội dần. Khi dùng nhấc ghim ra lấy đũa gắp khéo từng chiếc búp khoai lên bát, trông từng chiếc búp khoai bên ngoài vẫn săn nguyên nhưng bên trong đã chín mềm mục tỏa ra mùi thơm ngậy của dọc, của cua, ngọt ngào của tương và hương vị đặc trưng của khoai đồng, ăn vào thật khó quên. (Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Đặc sản Phú Thọ 3

(Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Cơm Lam: Cơm lam là thứ cơm đồng bào làm từ gạo nếp. Người dân ở đây cho gạo vào những ống nứa mồng, lấy từ những cây nứa non chưa có lá, bằng cỡ chuôi dao. Đổ nước suối nguồn vào, cho thêm chút nước gừng, vài hạt muối ngâm một lúc cho gạo chương đều, nút chặt miệng ống bằng lá chuối, cho vào bếp lửa đốt, ở thế dựng đứng, cho khỏi đổ nước. Khi cơm sủi thỉnh thoảng nhấc ra, dỗ nhẹ xuống đất, cho gạo dồn xuống, khẩu cơm sẽ chặt và lèn. Cơm cạn nước, để ống nằm ngang hiêng, nướng, xoay, trở đều trên than lửa, như nướng ngô. Khi vỏ nứa ngoài cháy đều, cơm chín, để nguội, dùng dao, lột bỏ phần vỏ cháy, lộ ra phần bọng nứa trắng, mỏng, bao quanh khẩu cơm. Khi ăn cắt khúc dài khoảng gang tay, cầm như cầm quả chuối, bóc bỏ bọng nứa mỏng, nhẩn nha ăn. Cơm có mùi thơm của gạo nếp cái hoa vàng, thơm cay của vị nước gừng, quyện với vị béo của gạo, ngọt của nước nứa non ngấm vào rẻo quạnh, một mùi vị đặc trưng quyến rũ đến khó tả, mà làm ta nhớ mãi. Làm được cơm lam ngon, dẻo, không cháy, không nhão… là cả một nghệ thuật từ chọn nứa, chọn gạo, cho nước, đốt, nướng… thể hiện sự tài đảm khéo léo của người phụ nữ. Các bà, các chị vẫn thường làm cơm mang đi ăn đường xa, làm quà cho khách, cho cháu nhỏ, trong các lễ hội truyền thống… Thứ cơm nguyên thủy, tinh khiết, gần gũi với thiên nhiên, chứa đủ âm dương, ngũ hành… (Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Cơm nắm lá cọ: “Dù ai đi ngược về xuôi / Cơm nắm lá cọ là người Phù Ninh”, nắm cơm lá cọ cũng chính là hồn vía miền quê đồi trơ cằn sỏi đá mà cây cọ là hình tượng một thời của đời sống dân dã. Với diện tích cọ đứng đầu tỉnh, đời sống kinh tế của người dân suốt nhiều thập kỷ gắn bó với sản phẩm cọ, ngoài lá cọ là vật liệu quan trọng để lợp nhà, còn có áo tời lá cọ, nón lá cọ, mành cọ, nhất là nón cọ. Để có nắm cơm lá cọ, không phải lá cọ nào cũng dùng để nắm được, phải tìm những lá cọ non của những cây cọ mới mọc thấp ngang thắt lưng. Tàu lá cọ nhỏ bằng miệng nón, còn phớt xanh hoặc chưa xòe hết, đem cắt bớt tua lá xung quanh, lau rửa sạch, để cho ráo nước. Cơm nấu chín, xới ra, dùng khăn mặt ướt hoặc tay nhúng nước lạnh nắm tròn lại, lăn cho kỹ, cho nhuyễn, tùy khẩu phần ăn cho một hay nhiều người mà chia thành nắm to, nắm nho, sau đó cho vào tàu cọ, túm lại buộc một đầu, lăn qua lần nữa cho chặt. Thế là có một “móm cơm lá cọ” để cả ngày, thậm chí để sang ngày hôm sau vẫn không bị thiu. Đi làm đồng xa, đi buôn bán hay đi học phải ở lại lớp để lao động chiều, ai cũng có nắm cơm lá cọ. Đến bữa, mở móm cơm ra, nắm cơm trắng mịn hình trái bưởi có những đường sọc đều đặn của gân lá cọ trông đẹp mắt. Dùng dao cắt ra từng miếng cơm trắng mịn, bùi ngọt, thơm mùi gạo quê lẫn mùi lá cọ, chấm với muối vừng, muối sả hay sườn lợn rang muối. Hiện nay, loại cơm nắm này đã xuất hiện ở những nhà hàng đặc sản hay khu du lịch sinh thái, được cả khách ta lẫn khách nước ngoài ưa thích, nhưng chắc chắn những nắm cơm đó không có mùi thơm ngái của lá cọ non như cơm nắm ở quê. (Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Đặc sản Phú Thọ 2

(Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Thịt chua Phú Hà: Những năm gần đây có một nghề mới  xuất hiện trong làng đó là nghề làm thịt chua. Ai đã từng ăn món thịt chua ở Phú Hà hẳn không thể quên bởi hương vị và đặc trưng của nó. Ông cha ta vẫn thường nói: Miếng ngon nhớ lâu, quả không sai. Cách làm thịt chua cũng rất đơn giản, chủ yếu là phải chọn được nguyên liệu tốt. Để có món thịt chua hấp dẫn người ta lấy thịt ba chỉ, thịt mông sấn, thịt nạc vai, nạc thăn đã được sơ chế sạch từ loại lợn lửng, hoặc là lợn địa phương làm nguyên liệu. Giống lợn này nuôi một năm chỉ đạt tới 15- 17 kg ,thịt rất thơm ngon. Không thể sử dụng loại thịt bày bán ngoài thị trường làm món thịt chua được, bởi loại thịt này chứa nhiều nước, sản phẩm không đạt chất lượng. Làm thịt chua không mấy phức tạp người ta thái thịt ra thành từng miếng thật mỏng, to hay nhỏ là tuỳ theo ý thích, cũng có thể thái chỉ để khi ăn nhìn miếng thịt trông ngon mắt hơn. Thính được làm từ bột ngô, bột gạo, bột đậu xanh rang vàng. Khâu rang thính phải đảm bảo được yêu cầu thính chín kỹ, vàng thơm và không bị cháy, sau đó xay nhỏ .Thịt sau khi đã được làm sạch, thái miếng ướp một chút muối gia vị, cho trộn đều với thính sao cho bột thính bám thật đều trên bề mặt các miếng thịt. Người làng mộc thường chuẩn bị những ống nứa to rửa sạch, để khô, lót lá ổi xuống dưới rồi cho thịt đã được ướp thính vào, đậy lớp lá ổi lên trên bề mặt và nút chặt miệng ống lại. Khi làm xong người ta thường treo lên hoặc bảo quản ở những nơi cao ráo, thoáng đãng. Tuyệt đối không lấy túi ni lon để ủ sản phẩm, bởi làm như vậy khi thịt lên men sẽ tạo nhiệt, túi ni lon bọc bên ngoài bị ngưng hơi nước sản phẩm sẽ bị mốc. Thời gian đảm bảo cho thịt lên men và dùng được là từ 4- 5 ngày vào mùa hè; từ 5-7 ngày vào mùa đông. Sản phẩm này cần được sử dụng  trong thời gian từ 2- 4 ngày khi đã đủ độ chín để đảm bảo tính hiệu quả, chất lượng.  Nếu kéo dài thời gian, sản phẩm không bị hỏng nhưng quá chua sử dụng sẽ không tốt. Yêu cầu một thành phẩm đảm bảo chất lượng là khi ăn phải khô, tơi, chín đều, chua, ngọt, thơm ngậy vừa miệng. Khi ăn thịt chua người ta thường ăn kèm với các loại lá như: lá sung, lá ổi, lá mơ, lá nhội, lá lộc vừng, rau mùi, rau húng chấm với tương ớt. Những ngày nắng nóng, món thịt chua vừa tới ăn kèm các loại rau gia vị, nhắp một chút rượu, bia thì quả là hấp dẫn. Hiện nay, món thịt chua từ làng mộc Phú Hà đang là món đặc sản quý được nhân dân trên địa bàn và nhân dân trong tỉnh ưa chuộng. Khi thịt chua đã đủ độ chín, người ta chia thịt ra nhiều lọ nhỏ bằng nhựa, một mặt để khách hàng có thể quan sát nhìn thấy ngay thành phẩm, mặt khác dưới góc độ thẩm mỹ khách hàng cảm thấy dễ coi hơn, tiêu dùng phù hợp hơn. (Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Rêu đá Thanh Sơn: Muốn ăn rêu sạch, non phải chọn nơi nước suối chảy xiết, có nhiều tảng đá to (nơi rêu bám vào để phát triển). Đồng bào gọi là “bắt” rêu vì coi nó là một loại thực phẩm như cá hay cua suối. Rêu được “bắt” thành từng dây dài, tùy từng khúc suối sâu hay nông mà có màu xanh lục hay xanh non. Rêu được bỏ vào rổ, giặt qua nước suối nhằm loại bỏ cát hoặc chất bẩn, bỏ lên một tảng đá to, có mặt bằng phẳng rồi dùng một khúc gỗ to để đập. Sơ chế rêu cũng đòi hỏi phải có tính kiên nhẫn vì phải giặt và đập rêu tới vài lần mới sạch. Cả một rổ rêu đá lúc này chỉ còn đủ dùng trong một bữa. Màu rêu đá xanh đậm, sờ vào mềm và mát như lụa. Rêu đã làm sạch được tẩm ướp gia vị. Đó là tỏi thái mỏng, muối, mì chính, cộng thêm hành và chút mỡ lợn rồi trộn đều, dùng lá đu đủ gói thành nhiều lớp buộc chặt lại. Thông thường món ăn này được làm vào buổi tối vì đó là lúc có mặt đông đủ mọi thành viên trong gia đình. Bên bếp lửa bập bùng, họ vừa nấu cơm, vừa vùi rêu vào than hồng. Lớp lá đu đủ bén lửa bốc lên mùi cay cay, thơm thơm. Đợi đến khi những lá đu đủ bên ngoài chuyển thành màu đen, họ mới bóc từng lớp lá ra. Mùi tỏi và hành quyện với mùi nồng nồng của rêu đá tạo nên một hương vị rất riêng. Tôi nếm thử món ăn đặc biệt này. Rêu giờ đây giống như món tảo biển có vị ngầy ngậy, mềm mềm, ngon mà không ngấy. (Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Bánh Tai: Không biết nguồn gốc lai lịch bánh tai có từ đời nào. Ở đất thị xã Phú Thọ có nhiều nhà làm bánh tai có truyền thống nhiều đời nổi tiếng đến nay. Gần đây bánh tai trở thành món ăn sáng thú vị và là đĩa bánh (thay cơm tẻ) của mâm cỗ cưới lịch sự ở thị xã Phú Thọ, là thứ quà quý lạ với nhiều người ở Hà Nội và các tỉnh xung quanh. Gọi là bánh tai bởi vì cái bánh hình thù như cái tai dài bằng lòng bàn tay (theo chiều dọc) to ngang khoảng 4, 5 phân, màu trắng đục. Là bánh bột gạo tẻ. Ăn không biết ngán mà chỉ no. Người khỏe có thể ăn 4, 5 chiếc. Cầm chiếc bánh tai nong nóng trong tay ăn theo kiểu dân dã – như lối ăn xôi nắm – mùi bột quyện trong mùi nhân thịt thơm ngậy, quyến rũ, cắn từng miếng từ đầu tai vào trong cùng cảm giác dẻo,  mát, giòn, là vị bùi, ngọt, béo, thơm… béo mà không ngấy vì có lượng mỡ nhỏ của nhân ngấm tỏa đều trong cả chiếc bánh sau khi xôi. Còn ngọt, bùi là chất gạo tẻ ngon được chọn, đặc biệt là độ giòn dẻo là do kỹ thuật giã, nhậu bột của người làm bánh. Thời xa xưa, người bán bánh tai thường bán kèm với cháo gạo tẻ – cháo bột thái – chỉ cần chút nước mắm ngon hòa sẵn. Mỗi bát cháo ấy cắt thêm 1, 2 cái bánh tai vào vừa dễ ăn vừa chóng no, có thể lao động suốt buổi sáng. Nay, tùy khẩu vị có người mua bánh về nhà, chấm thêm nước mắm vắt chanh, quất, ớt, tiêu… mà nhấm nháp thì ăn không biết ngán. (Chuyên mục: Đặc sản Phú Thọ)

Ngoài ra Phú Thọ còn nổi tiếng với các loại đặc sản như: Cá thính, măng muối ớt, cá sỉnh, củ dòm, cơm non, rau đắng cảy, mắm cáy, … 

Đặc sản Phú Thọ
3.5 (70%) 2 votes

Ý Kiến Của Bạn



Có thể bạn thích bài viết:close