Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một Mẹ thôi …

Đặc sản Thanh Hóa

Những đặc sản đáng nhớ về quê hương – Đặc sản Thanh Hóa

(Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Thanh Hóa có 1 thành phố, 2 thị xã và 24 huyện, bao gồm:

+ Thành phố Thanh Hóa

+ Thị xã Bỉm Sơn và thị xã Sầm Sơn.

+ Huyện Bá Thước, huyện Cẩm Thủy, huyện Đông Sơn, huyện Hà Trung, huyện Hậu Lộc, huyện Hoằng Hóa, huyện Lang Chánh, huyện Mường Lát, huyện Nga Sơn, huyện Ngọc Lặc, huyện Như Thanh, huyện Như Xuân, huyện Nông Cống, huyện Quan Hóa, huyện Quan Sơn, huyện Quảng Xương, huyện Thạch Thành, huyện Thiệu Hóa, huyện Thọ Xuân, huyện Thường Xuân, huyện Tĩnh Gia, huyện Triệu Sơn, huyện Vĩnh Lộc và huyện Yên Định.

Những đặc sản đáng nhớ về quê hương Thanh Hóa:

Đặc sản Thanh Hóa 3

(Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Canh lá Đắng: Có dịp đến Thanh Hóa, du khách đừng quên thưởng thức đặc sản canh đắng đậm đà hương vị núi rừng của người dân tộc thiểu số miền núi. Đầu tiên, một vị đắng đến tê người sẽ chạm vào lưỡi, kế đến mới nghe béo bùi, thơm phức, cay líu lưỡi… Nhưng canh đắng lại có hậu ngọt lạ lùng. Mùi vị của món canh này không dễ gì bạn quen ngay. Nhưng nếu  bạn nếm thử nó một vài lần, thì có thể sẽ ao ước mãi cái hương vị kỳ lạ cuốn hút như thôi miên. Người miền Nam đã quen với canh khổ qua (mướp đắng), nhưng canh đắng của người xứ Thanh còn đắng hơn bội phần. Bát canh có đầy đủ vị cay đắng, ngọt bùi…, trong đó đắng là chủ đạo. Vị đắng nhớ đời của núi rừng xua tan cái ngấy ngán của bữa tiệc ê hề thịt cá, giúp dòng máu ấm dần lên trong huyết quản giữa ngày đông giá lạnh. Đến mùa hè nóng nực, bạn húp bát canh đắng cũng thấy tỉnh hẳn người, bao mệt mỏi dường như tan biến. Để nấu món canh này, không thể thiếu lá đắng. Đây là một loại cây mọc tự nhiên ở trong rừng, lá có hình dáng giống lá sắn (khoai mì), từ cuống chính tỏa ra nhiều nhánh lá phụ. Không phải loại lá đắng nào cũng có thể cho bát canh ngon. Theo kinh nghiệm của bà con dân tộc thiểu số ở đây, họ thường chọn hái loại lá dài và mỏng.  Ngày nay, để tiện dụng lá đắng thường được người ta hái về, phơi khô rồi xé nhỏ. Khi nấu canh họ chỉ cần bốc lấy một nhúm lá bỏ vào nồi. Nhưng nấu canh với lá đắng tươi mới là ngon nhất. Từng nhánh lá xanh mướt còn nguyên nhựa sống, vị đắng của nó dường như cũng tươi mới và ngọt ngào hơn nhiều. Canh đắng hợp nhất là nấu với lòng bò, lợn hoặc thịt thú rừng băm nhỏ. Lá đắng cũng được băm nhỏ trộn cùng lòng, thịt, thêm một chút củ riềng, sả, cơm mẻ, một muỗng mắm tôm ngon…  Nếu thích, người nấu có thể điểm vào một mớ lát cây chuối non xắt mỏng như lá mạ. Rồi bóp tất cả cho thật đều với nhau, ướp trong khoảng 15 phút. Đun lửa nhỏ, bắc nồi lên bếp đảo đều. Lửa vừa bén vào, mùi thơm của riềng sả, mắm tôm dậy lên đã khiến bụng dạ cồn cào. Đầu bếp cứ để cho nồi canh ngấm gia vị, sôi liu riu trên bếp lửa chừng vài phút rồi đổ thêm vào vài bát nước. Khi nào nồi canh sôi bùng lên, khuấy vào thấy sền sệt là được. Nồi canh sóng sánh mỡ vàng, ẩn hiện những miếng lòng, miếng sụn quyện với nhúm lá đắng xanh đen, điểm thêm vài trái ớt hiểm đỏ tươi như hoa nở trên mặt đất nâu cằn cỗi. Hương thơm tỏa ra thoang thoảng, có vị nhân nhẫn của lá cây, dìu dịu chua của mẻ, phảng phất chút ngầy ngậy thơm thơm của mỡ, thịt thật quyến rũ. Món này bạn phải thưởng thức ngay khi nóng, phải bưng bát nóng bỏng tay vừa thổi vừa húp, để làn hơi nghi ngút và mùi thơm quyến rũ xộc vào mũi mới cảm nhận được hết cái ngon.  Húp hết bát canh nóng đến mềm môi, mồ hôi thực khách sẽ vã ra như tắm, người thêm tỉnh táo, khỏe khoắn hẳn ra. Canh đắng còn trợ tiêu hóa, ngừa cảm mạo. (Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Nem chua: Quả nem chỉ to bằng chiếc chén pha trà, gói bằng lá chuối tươi, lạt giang trắng buộc quanh chữ thập 6 mặt trông nho nhỏ, khéo khéo. Làm nem là một nghề độc đáo, không khó nhưng phải có những bí quyết nhất định. Pha chế là khâu quan trọng, thứ gì làm trước, thứ gì làm sau, ngào trộn như thế nào…và khâu vệ sinh cũng như kỹ thuật gói nem cũng rất quan trọng. Nguyên liệu chủ yếu để làm nem bao gồm thịt nạc xay nhuyễn; Bì lợn luộc chín, cạo thật sạch, lạng mỏng bỏ vào máy cán thành sợi, ngắn chừng 3cm. Thính là gạo tẻ rang vàng, xay nhỏ mịn. Gia giảm còn có men, tiêu bắc, muối tinh và bột ngọt vừa đủ. Đôi bàn tay xinh xinh thoăn thoắt gói nem, đặt viên nem đã vo sẵn vào lá chuối, cuộn,bẻ góc, quả nem mới hình thành đã vuông vức, cầm lá chuối xé sẵn khoanh chặt, ngoài cũng lấy lá mặt gói chặt, miệng ngậm đầu lạt xoay quanh buộc chặt, nhoáng đã xong quả nem rồi sâu thành chục một, sau 1-2 ngày là ăn được. Khi ăn, Nem bóc ra chắc, màu hồng, không dính lá, có vị hơi chua là nem ngon. Mùa nào ăn nem cũng ngon, nhưng thú vị nhất là cuối thu, sang đông và mùa xuân. Ngày Tết có nem để đón xuân, chén rượu nhắm với nem Hạc Thành thì thật là thú vị. (Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Đặc sản Thanh Hóa 2

(Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Sâu măng Mường Lát: Khi thưởng thức món sâu măng xào, nếu lần đầu thưởng thức, chắc ai cũng ái ngại xen lẫn chút ghê ghê khi nhìn thấy món ăn này. Nhìn những con sâu măng ngọ nguậy trong chiếc giỏ xách của người phụ nữ dân tộc Mông, ít ai ngờ rằng, chính nó là nguyên liệu chế biến món đặc sản ở huyện miền núi, biên giới Mường Lát (Thanh Hóa). Sâu măng là loài sâu sống trên cây măng, phổ biến là măng nứa ở Mường Lát. Tháng 9, tháng 10 (dương lịch) là mùa săn sâu măng của đồng bào vùng cao. Khi cây măng đã cao quá đầu người cũng là lúc những con sâu vào độ béo nhất. Bắt sâu không khó, nhưng để bắt được nhiều thì khá tốn công. Người săn sâu măng chỉ cần mang theo dao và giỏ đựng. Đứng trước các bụi nứa, hễ cây măng nào có biểu hiện héo ngọn, thân cong queo, mắt cây có u thì đích thị bên trong cây nứa đã có sâu măng. Người bắt sâu hạ gục cây măng xuống rồi đổ sâu trong ống nứa vào giỏ. Sâu măng to bằng đầu đũa, dài cỡ 2 đốt ngón tay. Có nhiều cách chế biến nhưng món ngon nhất, đơn giản và hấp dẫn là xào lá chanh. Sâu măng rửa sạch, ướp gia vị. Phi thơm hành, trút sâu măng vào chảo, rồi đảo nhanh tay. Khi sâu măng chuyển sang màu vàng nhạt, cho lá chanh thái chỉ đảo đều. Thế là hoàn tất món sâu măng xào lá chanh. Đĩa sâu măng vàng ruộm, kèm mùi thơm hấp dẫn, vị ngậy, bùi sẽ khiến bạn quên hẳn cái vẻ bề ngoài ghê ghê của nguyên liệu. Sâu măng xào được dùng làm mồi nhậu hoặc ăn với cơm cũng rất hợp. Người dân Mường Lát vẫn truyền tai nhau thứ rượu “ông uống bà khen” được ngâm từ sâu măng. Theo đó, sâu măng sau khi được thu lượm về sẽ được phơi sương một đêm, rồi tiếp tục phơi nắng một ngày. Trải qua giai đoạn này, con sâu nào vẫn còn sống, vẫn có thể ngóc đầu dậy mà bò lổm ngổm thì được tuyển chọn. Số sâu măng này được đem rang trên chảo (không cho dầu ăn, mỡ) cho thân sâu măng săn lại sau đó trút vào bình ngâm rượu. 30 ngày sau là có thể dùng. Nhiều người khen ngợi nó là “Viagra thiên nhiên”. Ở Mường Lát các món ăn chế biến từ sâu măng là đặc sản. Khách quý đến nhà vào mùa sâu măng được chủ nhà ưu ái mời thưởng thức món ăn này. (Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Bánh gai Tứ Trụ: Bánh gai Tứ Trụ khởi đầu là do người làng Mía trong vùng làm ra để cúng giỗ Lê Lợi, Lê Lai, cúng ông bà Tổ tiên trong Tết Nguyên đán và lễ hội trong năm. Dần dần nghề làm bánh gai được phổ biến ở các làng vùng Tứ Trụ xã Thọ Diên và trở thành đặc sản của xứ Thanh nổi tiếng cả nước. Nguyên liệu làm dễ tìm kiếm, nhưng lại hơi cầu kỳ. Gạo nếp cái hoa vàng xay lọc lấy tinh bột, mật mía loại ngon nhất vùng, thịt lợn nạc làm thành ruốc bông, đậu xanh đãi vỏ, đồ chín giã nhỏ, dừa già nạo thành sợi trắng như sợi cước, vừng rang vàng thơm, lá gai (cây gai mọc trên đồi, củ gai thường làm thuốc an thai) tước gân, luộc lên giã nhỏ lấy tinh bột, lá chuối khô để gói bánh. Cách làm bánh : Đem tinh bột nếp trộn với bột lá gai và mật mía rồi cho vào cối đá giã kỹ. Càng giã kỹ càng dẻo, bánh càng dai, càng ngon. Công đoạn này quan trọng nhất, vất vả nhất gọi là luyện bột. Bột luyện xong nặn thành bánh. Đậu xanh trộn với mật mía, với ruốc thịt cấy vào làm nhân. Bánh màu đen, ngoài vỏ cấy dừa sợi và vừng đã rang vàng. Sau đó dùng lá chuối khô, gói bánh (khoảng 10 lớp lá) xếp 5 cái bánh xếp thành một cuộn tròn buộc lại bằng lạt giang nhuộm phẩm đỏ cho đẹp. Đặt bánh vào chõ, đồ cho đến lúc bánh chín. Bánh gai Tứ Trụ có hương vị ngon mà các loại bánh ngọt khác không có được. (Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Đặc sản Thanh Hóa 1

(Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Rượu nếp cẩm: Thổ ngơi của xứ Mường đã ban tặng cho người dân nơi đây một loại lương thực hiếm có: gạo nếp cẩm. Cái màu đỏ tím từ vỏ trấu thấm vào đến tận ruột gạo, tạo nên một hương vị đặc biệt, khác với nhiều loại gạo nếp thường. Người dân ở đây thường dùng loại gạo nếp cẩm để làm rượu. Cứ đến tháng 10 (âm lịch) lúa nếp cẩm được bà con gặt từ trên nương (ruộng) đem về đập phơi khô cất gác nơi khô ráo. Để chuẩn bị mẻ rượu dùng vào dịp Tết, hội xuân, dịp vui, người ta dùng cối xay tre (hoặc máy bóc vỏ liên hoàn) xát bật vỏ trấu không để xây sát hạt gạo, sàng sảy sạch sẽ đem ngâm nước (chừng 10 – 12 giờ). Người xưa ủ rượu cẩm rất công phu, quan trọng hàng đầu là việc chọn men. Muốn làm men rượu phải có bí quyết gia truyền. Đặc biệt những người biết làm men rượu thường phải vào tận rừng sâu, kiếm sa nhãn và thiên niên kiện là 2 vị chính dùng để làm men, tất nhiên còn phải kèm theo một số vị khác nữa, từ rễ, từ củ, từ lá của mấy loại cây nhất định, để đảm bảo cho rượu nếp cẩm có hương vị riêng. Gạo nếp cẩm sau khi được đồ chín, vãi ra nong tre hoặc sàng quạt nguội, cho men lá cây vào trộn đều ủ đúng 3 ngày. Gạo lên men thành cơm rượu thơm ngọt, cho vào chum sành có thể đổ thêm một (vài) lít rượu nếp thường sẵn có, bịt kín chum bằng lá chuối khô, hoặc cũng có thể bằng nhiều lượt vải ni lông. Chum rượu được hạ thổ tại chỗ giọt gianh của nhà sàn, để thường xuyên được thấm giọt mưa, giọt sương từ trên trời rơi xuống. Khi hạ thổ chum rượu người Mường thường lầm rầm cầu khấn với nội dung ‘xin thổ thần thổ địa, cai quản giúp cho bình rượu thơm ngon tinh khiết đem lại sức khoẻ cho người ốm yếu, sự trẻ trung cho người già cả, lòng chung thuỷ cho đôi trẻ’. Sau 3 tháng 10 ngày, bình rượu thu hút đủ độ âm – dương là rượu có thể đem dùng. Người ta đào rượu lên, dùng khăn sạch tách lọc phần nước và bã. Rượu nếp cẩm vừa sánh vừa tím óng lên như mật, được hứng vào sừng trâu, hoặc vào ấm sành, tuỳ theo độ tuổi và thể trạng mà nhâm nhi, thấy đó quả là một liều thuốc tăng lực và phấn chấn tinh thần. Phụ nữ mới sinh có thể dùng lòng đổ trứng gà đánh tan nhuyễn với mật ong hoà với rượu nếp cẩm để phục hồi sức khoẻ. (Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Mía Kim Tân: Kim Tân là thị trấn – trung tâm trao đổi mua bán sầm uất của huyện Thạch Thành. Nơi đây nổi tiếng với những đồi mía trải dài bất tận, vào mùa thu hoạch mía người dân thường tập trung về thị trấn mua bán từ đó cái tên mía Kim Tân ra đời. Mùa gió heo may cũng là mùa mía Kim Tân vào độ ngọt nhất. Trên dọc hành trình về chiến khu Ngọc Trạo xưa, những khi mỏi bước du khách hãy dừng chân thưởng thức Mía Kim Tân. Tước dóng mía tròn lẳn, vàng óng, mềm ngọt trên miệng du khách sẽ cảm nhận được hương vị độc đáo của sản vật nổi tiếng này – đó cũng là tinh hoa của đất trời và tình người quê Thanh! (Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Dừa Hoằng Hóa: Hoằng Hóa nổi tiếng với dừa làng Nghĩa thuộc xã Hoằng Lộc. Mùa dừa trổ hoa, hương thơm lan rộng, bay xa khắp vùng, cả xóm làng nhuốm mình trong một màu xanh tươi trù phú. Đất tốt nên quả sai, trái ngọt, dừa làng Nghĩa từ lâu đã trở thành quà thơm đặc sản của làng quê Hoằng Hóa hấp dẫn được nhiều du khách gần xa về thẩm thụ. Trái dừa nơi đây to hơn dừa Bến Tre, giá trị nhất là dừa “mùa”, còn gọi là dừa chính vụ. Loại này cùi dày trắng muốt, giòn và thơm; nước nhiều và trong như nước mưa rào mùa hạ, có vị thơm ngọt, mát lành. Ngày hè nóng bức, nước dừa cất ra từ trái dừa chặt trên cây  lúc bình minh ló rạng, bỏ mấy hạt muối tinh vào để uống thì cơn khát tan đi chóng vánh, chất men ga tự nhiên và vị thơm bổ, ngọt lành lan tỏa đến vị giác và làm sảng khoái cả tâm hồn người thưởng thức. Tiếng lành đồn xa, dừa Hoằng Hóa tỉnh Thanh được du khách muôn phương biết đến và ưa chuộng. Từ nơi thôn giã, dừa đã trở thành đặc sản, là sản phẩm du lịch hấp dẫn, làm đẹp thêm hồn đất và người quê Thanh. (Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Mắm Cáy: Mắm Cáy được làm từ con Cáy, một loài giáp xác có hình thù giống con cua đồng hay con dạm nhưng nhỏ và nhanh hơn. Cáy có nhiều loại (đỏ, nâu, đen, lông, gió…) Cáy đỏ làm mắm ngon nhất, kị nhất là Cáy lông vì theo dân gian nó rất độc, ăn vào không có lợi cho sức khỏe. Vào độ tháng năm trời hạn, nắng cháy, Cáy thi nhau chui ra khỏi hang đông như kiến cỏ, lúc này nhà nông trên các vùng quê Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Nga Sơn, Quảng Xương …bước vào mùa bắt Cáy làm mắm. Cáy bắt về rửa sạch, bóc yếm, bỏ hoi, chặt phần kìm nhọn ở còng rồi đem vào cối đá giã thật nhuyễn, sau đó trộn muối và thính cho vào vại, nén vỉ tre như nén cà rồi đem phơi nắng chừng một tháng là chín, càng được nắng, mắm càng nhanh chín và thơm ngon. Mắm Cáy chín có màu đỏ au, mới ngửi có mùi nồng nồng, ngai ngái, ăn vào lại có vị thơm thơm, ngọt lừ và giàu đạm, ưa nhất là được chấm với thịt ba chỉ luộc, cà muối xổi, hay các loại rau luộc…những buổi lâm thâm mưa phùn gió bấc, cho vài lát ớt chỉ thiên vào đĩa mắm Cáy chưng hành thơm phức, chan ăn với cơm  vừa chín tới bỗng thấy người khỏe và ấm lên lạ kỳ.  Lúc ấy bạn mới cảm nhận hết cái thú ăn mắm và nghe chừng, món ẩm thực hàng bình dân này cũng không thua kém các món sơn hào hải vị. (Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Bánh răng bừa: Bánh răng bừa (có nơi gọi là bánh tẻ hoặc bánh lá), riêng người Thanh Hóa gọi tên như thế vì hình dạng chiếc bánh trông giống cái răng bừa. Đây là loại bánh truyền thống thường được làm vào ngày rằm, ngày giỗ, ngày Tết Nguyên đán hay những khi nhà có công việc. Làm bánh răng bừa không phức tạp nhưng cũng chẳng đơn giản. Nó đòi hỏi ở người làm một sự kiên trì, khéo léo và cả kinh nghiệm. Nguyên liệu chính là gạo tẻ, phải chọn loại gạo dẻo, thơm ngâm nước khoảng 3 – 4 giờ sau đó đem xay thành bột cùng với nước. Bột được xay xong cho lên bếp khuấy, trong quá trình này phải chú ý tay khuấy đũa liên tục sao cho bột không bị vón cục và cũng không quá chín, đây là công đoạn đòi hỏi người làm bánh phải thật khéo léo. Khi thấy nồi bột gạo có độ đặc sền sệt thì ta bắc xuống bếp, chuẩn bị công đoạn gói bánh. Người ta thường dùng lá dong hoặc lá chuối để gói bánh. Nhân bánh gồm có hành khô, thịt ba chỉ và mộc nhĩ băm nhỏ trộn chung với hạt tiêu rồi đem xào chín trước khi mang ra làm nhân, nêm gia vị sao cho vừa ăn, đừng mặn quá mà cũng đừng nhạt quá. Những chiếc bánh thon dài, nhỏ như những chiếc răng bừa được xếp vào nồi chờ nổi lửa để “hoàn thiện” mình. Bánh có thể được đem hấp hoặc luộc tới khi chín. Khi mùi thơm của thịt ba chỉ, mộc nhĩ, hạt tiêu hòa với mùi bột gạo tỏa ra mùi thơm ngào ngạt căn bếp nhỏ, cũng là lúc báo hiệu bánh chín. Những chiếc bánh dẻo thơm chấm vào bát mắm ngon thì không còn gì tuyệt bằng. Phải thưởng thức thì mới thấy hết vị ngon của hồn quê đọng lại trong từng miếng bánh. Xưa kia, chỉ những ngày giỗ tết, lễ tục thì trên mâm cỗ của người xứ Thanh mới xuất hiện đĩa bánh răng bừa như thể hiện lòng thành của con cháu đối với ông bà tổ tiên. Giờ đây ta có thể thưởng món bánh răng bừa ở bất kỳ những góc chợ quê, những quán ăn, nhà hàng hay trong các tiệc cưới hỏi trên mảnh đất xứ Thanh này. (Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Bánh đa Hậu Lộc: Nghề làm bánh đa của làng biển Hậu Lộc được truyền từ đời này sang đời khác và bí quyết làm bánh đã được giữ riêng cho làng biển này để tạo nên sự khác biệt. Chính vì vậy, bánh đa biển Hậu Lộc đã trở thành món ăn ko thể thiếu mang theo tình cảm nơi đất liền của những người đi biển, là món quà rất đỗi thân quen mang hương vị mặn mòi của quê hương với những người xa xứ. Mộc mạc, đơn sơ là thế những muốn làm được những chiếc bánh ngon, người làng biển luôn chú trọng khâu chọn nguyên liệu. Gạo phải là thứ gạo tẻ để lâu, sau đó đem ngâm ba, bốn tiếng, để gạo chua ở độ vừa phải, vớt ráo nước rồi đem vào cối xay hai lần cho bột thật mịn, trắng, nhuyễn như nước, không còn gợn, không còn sạn để bánh có vị thơm đậm đà của gạo. Tráng bánh như tráng bánh cuốn, chỉ khác là bánh được tráng hai lần làm cho bánh có độ dày dặn, khi quạt bánh nở to. Nếu tráng bánh kém thì khi đem quạt, bánh sẽ chín không đều, chỗ bị quá lửa, chỗ lại mang vị dai của bánh sống. Chỉ đặt bột lăn vài giây trong nồi hơi cho hơi nước làm chín bánh, rắc vừng lên mặt bánh rồi dùng ống nứa to cuộn bánh đặt nhẹ nhàng lên phên nứa. Khi phên nứa đã đầy thì đem ra sân phơi nắng. Độ nắng nóng và thời gian phơi bánh cũng có con số nhất định, không đơn giản chút nào. Bánh phải kịp thời được lật để bánh không dính vào phên. Luôn luôn phơi mặt bánh trắng lên trên trước, lật mặt vừng sau. Khi bánh đã khô, phải xếp chúng vào trong túi nilon, tránh ẩm ướt. (Chuyên mục: Đặc sản Thanh Hóa)

Ngoài ra Thanh Hóa còn nổi tiếng với các loại đặc sản như: Gỏi nhệch, nem nướng, chả tôm, bánh cuốn, xôi nhỏ nhẻ, bánh rán, khoai mán vàng,…

Đặc sản và phong cảnh là hai trong những yếu tố quan trọng nhất khiến con người đam mê du lịch, thích khám phá và chinh phục. Ai xa quê cũng nhớ về quê hương da diết, nhớ món ăn đặc sản hay tiếng nói thân thuộc quê mình, thiết nghĩ đặc sản các vùng miền cần phải được giới thiệu rộng rãi với mọi người nhiều hơn, đặc biệt với du khách nước ngoài khi đến du lịch Việt Nam. Do đó mình thực sự mong muốn một “Siêu Thị Đặc Sản TRĂM TRONG MỘT” – Nơi để mọi người ai có đặc sản quê ngon nhất, sạch nhất và giá tốt nhất để trao đổi cùng nhau.

Chúc mọi người vui, khỏe và đam mê khám phá hết những đặc sản của quê hương Việt Nam.

làm hồ cá koi
làm hồ cá koi lọc hồ cá koi thiết kế hồ cá koi thiết kế bể cá koi thiết kế thi công hồ cá koi lọc bể cá koi thiết kế hồ bơi sinh thái làm bể cá koi
lọc hồ cá koi

Ý Kiến Của Bạn



Có thể bạn thích bài viết:close